CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC LIỆU VIỆT NAM

Hotline: 0912.022.358

Trống

Tổng số

Thuốc và Dược liệu

Nhóm dược liệu: Tất cả

Cải trời

Mô tả: Cây thảo cao 0,40-1m, nhánh và lá có lông hơi dính (trĩu), thơm. Lá mọc so le, mép khía răng.

Chè

Giới thiệu: Cây được trồng lấy lá tươi sắc nước uống hoặc chế biến theo những quy trình nhất định thành trà để pha nước uống.

Cây Khế

Mô tả: Cây gỗ to, cao 4-5m, lá mọc so le, kép lông chim lẻ, dài 11-17cm; 3-5 đôi lá chét nguyên, dạng màng cứng, trái xoan, có mũi nhọn, màu lục lờ ở mặt dưới; những cái trên dài t

Cối xay

Giới thiệu: Cây sống dai, mọc thành bụi. Cây gỗ nhỏ, có nhiều lông mịn. Lá đơn, mọc cách, dài 8-9 cm, rộng 8-11 cm.

Cây gai dầu

Mô tả: Cây thảo sống hàng năm cao 1-3m; thân vuông có rãnh dọc, phủ lông mềm, sù sì.

Củ gai

Giới thiệu: Cây sống lâu năm, có thể cao tới 1,5 - 2m.

Côn bố

Giới thiệu: Là một loại tảo dẹt, màu nâu, có những móc để bám vào tảng đá ngoài biển. Một bộ phận hình trụ có vai trò như thân và một bộ phận dẹt và dài như lá.

Cao bản

Giới thiệu: Cây thảo sống lâu năm, cao 0,5-1m. Thân rễ gần như hình cầu, đường kính 1-3cm, mặt ngoài màu nâu sần sùi, mặt trong màu trắng ngà.

Cao lương khương

Vị thuốc Cao lương khương là thân rễ (củ) của cây Riềng, còn gọi Riềng ấm, Riềng núi, Tiểu lương khương, Lương khương.

Câu đằng

Giới thiệu: Câu đằng là một loại dây leo, thường mọc nơi mát.

Câu kỷ tử

Giới thiệu: Cây nhỏ, mọc đứng thành bụi sum sê, cao 0,5 - 1m. Cành cứng. đôi khi có gai ngắn ở kẽ lá.

Cẩu tích

Dược liệu dùng là thân rễ đã cạo sạch lông, phơi hay sấy khô của cây Lông Culi (Cibotium barometz J. Sm. = Dicksonia barometz L.), họ Kim mao (Dicksoniaceae).

Chè dây

Chè dây là dạng cây leo, thân và cành cứng, có tua cuốn chẻ đôi, mọc đối diện với lá. Lá kép, mọc so le, có 7-13 lá chét, có khi hơn.

Chỉ thực

Dược liệu dùng là quả non, phơi khô của cây Chanh chua (Citrus aurantium L.) và một số loài Citrus khác, họ Cam (Rutaceae).

Can khương

Dược liệu dùng là thân rễ (thường gọi là củ) của Cây Gừng đã được phơi khô, gọi là Can khương. Gừng tươi được gọi là Sinh khương; gừng nướng gọi là Ổi khương; vỏ gừng gọi là Bào khương

Chỉ xác

Thu hái, chế biến: Chọn vào tháng 9-10, hái những trái gần chín, phơi khô lúc trời khô ráo hoặc hái quả xanh có đường kính 3-5cm bổ ngang làm đôi, phơi khô.

Chi tử

Giới thiệu: Cây nhỏ, nhẵn, cành mềm, khía rãnh dọc. Lá mọc đối hay mọc vòng 3, hình thuôn trái xoan, màu nâu đen bóng ở trên mặt, nhạt hơn ở mặt dưới, dai, gân mảnh nổi rõ.

Chử thực tử

Giới thiệu: Cây to, cao 10-16m, cành non có nhiều lông tơ mềm.

Cỏ ngọt

Giới thiệu: Là một loại cỏ sống lâu năm. 6 tháng sau khi trồng, gốc bắt đầu hoá gỗ, mỗi gốc có nhiều cành. Nếu để mọc tự nhiên cây có thể cao đến 100cm.

Cỏ nhọ nồi

Giới thiệu: Cỏ nhọ nồi là một loại cỏ thẳng đứng có thể cao tới 80cm, thân có lông cứng. Lá mọc đối có lông ở hai mặt, dài 2-8cm, rộng 5-15mm.

Cỏ roi ngựa

Giới thiệu: Cây thảo sống dai, mọc thành bụi cao 30-70cm. Thân vuông. Lá mọc đối, dài 2-8cm, rộng 1-4cm, chia thùy hình lông chim, có răng, cuống lá rất ngắn hoặc không có.

Cỏ xước

Giới thiệu: Cây thảo sống hằng năm hay hai năm. Cây cao khoảng 1m, rễ nhỏ, cong queo, bé dần từ cổ rễ đến chóp rễ, dài 10-15cm, đường kính 2-5mm. Lá mọc đối, mép lượn sóng.

Trang